Báo cáo Tổng thuật Hội thảo "Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018"

  1. Bối cảnh

Luật Cạnh tranh năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2005 là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể hoạt động kinh doanh trên thị trường. Luật này là hành lang pháp lý quan trọng giúp tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, từ đó tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước, phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội và đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng.

Mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định nhưng kết quả hơn 14 năm thi hành Luật Cạnh tranh 2004 không được như kỳ vọng. Số lượng vụ việc được điều tra và xử lý chưa nhiều, chưa phản ánh đúng thực tế cạnh tranh trên thị trường. Một trong số các nguyên nhân chủ yếu là do một số quy định của Luật Cạnh tranh 2004  đã dần bộc lộ những hạn chế và bất cập, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi.

Nhằm khắc phục những hạn chế và bất cập này, ngày 12 tháng 06 năm 2018, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Cạnh tranh (sửa đổi, bổ sung) năm 2018 (Luật Cạnh tranh 2018), có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 07 năm 2019 với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung so với Luật Cạnh tranh 2004.

Dưới góc độ khoa học pháp lý, những quy định của Luật Cạnh tranh 2018 cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn  từ đó phân tích, luận giải và đưa ra những đánh giá góp phần phục vụ công tác giảng dạy môn Luật Cạnh tranh tại Trường Đại học Luật TP.HCM cũng như góp phần đưa ra những ý kiến đóng góp vào việc xây dựng nghị định hướng dẫn cho Luật Cạnh tranh 2018. Do đó, Khoa Luật Thương mại với tư cách là một Khoa chuyên ngành, đảm trách công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy môn học Luật Cạnh tranh đã tiến hành tổ chức buổi Hội thảo khoa học: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT CẠNH TRANH 2018 VÀ GÓP Ý CHO DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG DẪN LUẬT CẠNH TRANH 2018”.

2. Mục tiêu của Hội thảo

Buổi Hội thảo nhằm hướng đến và đạt được các mục tiêu sau đây:

- Một là, Hội thảo hướng đến việc phân tích, luận giải, đánh giá và bình luận  những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018

- Hai là, Hội thảo nhằm hướng đến việc tạo ra một diễn đàn để các giảng viên, khách mời, các nghiên cứu sinh và sinh viên trình bày và trao đổi với nhau về các khía cạnh pháp lý của Luật Cạnh tranh 2018. Trên cơ sở đó, các luận cứ khoa học thu được từ quá trình thảo luận tại Hội thảo còn góp phần gợi mở các định hướng cho các nghiên cứu khoa học tiếp theo về Luật này trong thời gian tới.

- Ba là, Hội thảo hướng đến việc thống nhất các quan điểm khoa học về các nội dung đổi mới của Luật Cạnh tranh 2018 nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của Khoa Luật thương mại.

- Bốn là, Hội thảo còn hướng đến tìm kiếm giải pháp và đưa ra kiến nghị cho việc xây dựng, thông qua nghị định hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh 2018 nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi của Luật này.

3. Những điểm mới của Luật Cạnh tranh 2018 được bàn luận tại Hội thảo

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, các đại biểu tham dự buổi Hội thảo đã dành toàn bộ thời gian để cùng nhau bàn bạc, thảo luận, đi sâu phân tích một số điểm mới quan trọng của Luật này với trọng tâm tập trung vào chế định: (i) Chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh; (ii) Chống hành vi hạn chế cạnh tranh và Kiểm soát tập trung kinh tế.

3.1. Những quy định mới về chế định chống cạnh tranh không lành mạnh

Với 04 tham luận viết về chế định chống cạnh tranh không lành trong đó 03 tham luận được trình bày trực tiếp tại Hội thảo, về cơ bản các diễn giả đã cập nhật một cách toàn diện những điểm mới được sửa đổi, bổ sung trong Luật Cạnh tranh 2018 liên quan đến chế định này. Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến những điểm mới này được trình bày khá chi tiết, trong đó tập trung luận giải định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cách thức xử lý của Luật này liên quan đến việc giải quyết tình trạng chồng chéo khi áp dụng giữa “luật chung-luật chuyên ngành”, luận giải hai hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới: (i) Lôi kéo khách hàng bất chính; (ii) Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó... Trên cơ sở đó, Hội thảo đã dành phần lớn thời gian để các đại biểu, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên thảo luận về các vấn đề này. Các quan điểm khoa học tại Hội thảo tập trung cơ bản vào nhóm các nội dung sau đây:

- Dấu hiệu xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh có bắt buộc doanh nghiệp thực hiện hành vi và doanh nghiệp bị gây thiệt hại là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không? Trong khi Luật Cạnh tranh 2018 chỉ nêu một cách chung chung:  “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác” mà không yêu cầu gì thêm. Bên cạnh đó, Khoản 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 cấm hành vi: “Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó”.Với cách diễn đạt như trên, có thể hiểu “doanh nghiệp khác” có bắt buộc là đối thủ cạnh tranh hay không? Như thế nào là đối thủ cạnh tranh? Hiện nay Luật Cạnh tranh 2018 không có quy định cụ thể.

Về vấn đề này còn tồn tại nhiều cách hiểu và cách giải thích khác nhau, cụ thể:

  • Theo quan điểm của TS. Phạm Trí Hùng: “Doanh nghiệp khác” trong quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chẳng hạn như hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác, doanh nghiệp khác ở đây nếu không phải là đối thủ cạnh tranh thì sẽ xử lý theo Bộ luật dân sự, còn nếu doanh nghiệp khác ở đây là đối thủ cạnh tranh thì sẽ xử lý theo Luật Cạnh tranh. Tương tự hành vi xâm phạm bí mật trong kinh doanh, nếu doanh nghiệp thực hiện hành vi là đối thủ cạnh tranh thì sẽ xử lý theo Luật Cạnh tranh, nếu không phải là đối thủ cạnh tranh thì sẽ xử lý theo Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Khoản 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 không nói rõ doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh mà chỉ yêu cầu doanh nghiệp khác là doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hàng hóa, dịch vụ đó. Do vậy, riêng khoản 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018, doanh nghiệp khác không nhất thiết phải là đối thủ cạnh tranh cụ thể, nhưng các hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn lại thì doanh nghiệp phải là đối thủ cạnh tranh của nhau. Cách hiểu của khoản 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 có chút khác biệt so với cách hiểu của những quy định còn lại về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cơ sở để lý giải cho quan điểm này là xuất phát từ định nghĩa về cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch nhằm giành cùng một loại khách hàng.
  • Theo quan điểm của PGS.TS Hà Thị Thanh Bình: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể tác động đến đối thủ chưa xuất hiện trên thị trường. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh khiến cho những doanh nghiệp tiềm năng dự định gia nhập thị trường không thể gia nhập thị trường được nữa. Vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có bắt buộc hướng đến đối thủ cạnh tranh hay không? Luật Cạnh tranh 2018 cũng không có yêu cầu nào như vậy. Chúng ta sẽ giải thích như thế nào về khoản 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Bên cạnh đó, nếu cho rằng dấu hiệu để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh là đối thủ cạnh tranh của nhau thì phải xác định được thị trường liên quan, nhưng khi xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh pháp luật lại không có quy định nào yêu cầu xác định thị trường liên quan, và nếu phải xác định thị trường liên quan thì rất khó để xử lý những hành vi này. Theo pháp luật của một số nước trên thế giới, hành vi cạnh tranh không lành mạnh không được quy định tại Luật Cạnh tranh, mà hành vi cạnh tranh không lành mạnh chính xác là hành vi thương mại không lành mạnh (unfair trade practices).
  • Theo quan điểm của ThS. Đặng Quốc Chương: “Mặc dù không có cơ sở pháp lý vững chắc nhưng căn cứ vào Báo cáo Tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh được thực hiện bởi Bộ Công Thương cho thấykhi thực thi trên thực tế, việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng dựa vào dấu hiệu hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải diễn ra giữa các đối thủ cạnh tranh của nhau”[1].
  • Liên quan đến cách hiểu về đối thủ cạnh tranh, PGS.TS. Dương Anh Sơn cho rằng: “Quan niệm về đối thủ cạnh tranh sẽ rộng hơn rất nhiều. VD: doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải hàng không với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải đường sắt có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không. Theo định nghĩa của lý thuyết trò chơi, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là khi trên thị trường xuất hiện sản phẩm của họ thì người tiêu dùng ít quan tâm hơn sản phẩm của mình. Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải hàng không sẽ là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải đường sắt. Vì vậy, tùy từng trường hợp mà đối thủ cạnh tranh sẽ được hiểu một cách khác nhau cho phù hợp.
  • PGS.TS Phan Huy Hồng cho rằng: “Có hai quan điểm (concept) xây dựng pháp luật: (i) Đưa các hành vi cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Luật Cạnh tranh - Luật Cạnh tranh 2004 theo concept này; (ii) Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh này còn gọi là hành vi thương mại không lành mạnh, được quy định tại một luật riêng không phải Luật Cạnh tranh”.Hiện nay, Luật Cạnh tranh 2018, có sự pha trộn của hai concept. Vì vậy, cần phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể, hành vi nào yêu cầu doanh nghiệp phải là đối thủ cạnh tranh của nhau, và hành vi nào không yêu cầu doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau.

- Về mối quan hệ trong áp dụng giữa Luật Cạnh tranh 2018 và các luật khác, hiện nay Điều 4 Luật Cạnh tranh 2018 đưa ra quy định ưu tiên áp dụng các luật khác nếu có quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên vẫn còn biểu hiện xung đột trong việc áp dụng giữa các luật này, theo đó:

  • ThS. Đặng Quốc Chương nêu quan điểm:Khoản 2 Điều 4 Luật Cạnh tranh có quy định ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành, vậy nếu hành vi cạnh tranh không lành mạnh ra ở lĩnh vực quảng cáo, sở hữu trí tuệ về nguyên tắc sẽ áp dụng Luật Quảng cáo 2012, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã sửa đổi bổ sung năm 2009 nhưng các cơ quan quản lý chuyên ngành vì lý do nào đó chưa hoặc không xử lý thì Ủy ban cạnh tranh quốc gia có được quyền xử lý hay không?”. Trong khi Điều 80 Luật Cạnh tranh 2018 quy định: Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện”.
  • PGS.TS Phan Huy Hồng cho rằng:Cần thống nhất quan điểm về mặt khoa học. Cụ thể, đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh:

+ Về mặt luật hình thức (tố tụng), Ủy ban cạnh tranh quốc gia xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, mà hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh không nằm trong  Điều 130 nên sẽ không thuộc thẩm quyền xử lý của Ủy ban cạnh tranh quốc gia.

+ Về mặt luật nội dung, có thể áp dụng Luật Cạnh tranh hoặc Luật Sở hữu trí tuệ tùy vào từng trường hợp cụ thể. Nếu Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ có quy định xử phạt đối với các hành vi quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ thì sẽ ưu tiên áp dụng các hình thức xử phạt này mà không áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh”.

  • PGS. TS Hà Thị Thanh Bình cho rằng: “Luật Cạnh tranh chỉ nên quy định về hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế, để tránh trường hợp có những mâu thuẫn, chồng chéo giữa quy định của Luật Cạnh tranh và luật chuyên ngành về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
  • PGS.TS Phan Huy Hồng cho rằng, về mặt ngữ pháp, Điều 1 Luật Cạnh tranh 2018 có thể hiểu là cả hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế đều xét tới dấu hiệu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam.
  • ThS. Đặng Quốc Chương trình bày: thực tiễn cho thấy hành vi được thực hiện bởi các doanh nghiệp ở nước ngoài có thể tác động đến cạnh tranh trên thị trường Việt Nam từ khía cạnh các hành vi hạn chế cạnh tranh cho đến tập trung kinh tế, Điều 1 Luật Cạnh tranh 2018 mở phạm vi áp dụng là phù hợp. Tuy nhiên, sự điều chỉnh này chỉ mang tính chất thiết lập cơ sở pháp lý còn việc thi hành Luật ở nước ngoài là việc rất khó, cơ chế thực thi quy định này về cơ bản là dựa trên cơ sở hợp tác giữa cơ quan cạnh tranh của Việt Nam và các quốc gia khác theo nguyên tắc “có đi có lại”.
  • Về vấn đề Luật Cạnh tranh 2018 mở rộng đối tượng “tổ chức, cá nhân kinh doanh” bao gồm cả đơn vi sự nghiệp công lập cũng có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này. Tuy nhiên, về cơ bản các đại biểu tham dự đều thống nhất là các đơn vị sự nghiệp công lập có thực hiện hành vi cạnh tranh.

    Trên tinh thần trao đổi, thảo luận hết sức cởi mở, Hội thảo có kết luận ngắn gọn để kết thúc phiên thứ nhất như sau:

    - PGS.TS Hà Thị Thanh Bình đề nghị: trong công tác giảng dạy, khi trình bày về dấu hiệu xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh nên trình bày nhiều quan điểm pháp lý khác nhau mà không nên khẳng định dấu hiệu để xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi giữa các đối thủ cạnh tranh.

    - PGS.TS Phan Huy Hồng: Đơn vị sự nghiệp công lập sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh khi thực hiện hành vi mang tính chất cạnh tranh. Chẳng hạn các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vục y tế, giáo dục mục đích cuối cùng họ vẫn theo đuổi lợi nhuận, vẫn thực hiện hành vi cạnh tranh.

    3.2. Những quy định mới về chống hành vi hạn chế cạnh tranh và kiểm soát tập trung kinh tế

    Trong phiên thứ hai, Hội thảo tập trung vào nội dung gắn liền với những điểm mới của Luật Cạnh tranh 20018 về chống hành vi hạn chế cạnh tranh và kiểm soát tập trung kinh tế với 08 tham luận được các tác giả viết với nhiều khía cạnh khác nhau, trong số đó có 03 tham luận được các diễn giả trình bày trực tiếp tại Hội thảo[2]. Nhằm thảo luận có tính tập trung với thời gian hạn hẹp, các tham luận trình bày hướng vào khía cạnh kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, chính sách khoan hồng đặc biệt là về kiểm soát tập trung kinh tế. Nhiều vấn đề pháp lý được đề cập với nhu cầu cần được bàn luận, trao đổi được các diễn giải trình bày. Cụ thể:

    - Mở đầu phiên thảo luận, TS. Phạm Trí Hùng đặt vấn đề liên quan đến cách hiểu về nội trong Điều 1 Luật Cạnh Tranh 2018[3], có thể hiểu hai cách:

    (i) Cả hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế đều xét tới dấu hiệu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam

    (ii) Chỉ có tập trung kinh tế mới xét đến dấu hiệu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam.

    Việc hiểu như thế nào đối với quy định này có ảnh hưởng đến việc tiếp cận các quy định của Luật Cạnh tranh 2018 về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

    Nhiều ý kiến khác nhau được trình bày và cho quan điểm liên quan đến vấn đề trên. Tuy nhiên, về cơ bản tất cả các quan điểm đều thống nhất với nhau, quy định tại Điều 1 Luật Cạnh tranh 2018 được hiểu: “Cả hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế đều xét tới dấu hiệu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam”. Cụ thể:

- Về tiêu chuẩn “gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh” được Luật Cạnh tranh 2018 sử dụng nhằm kiểm soát tập trung kinh tế, tiêu cuẩn xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế với nhiều tiêu chí khác nhau được quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 nhưng vẫn chưa có tính cụ thể. Việc hướng dẫn thi hành được Luật trao cho Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn. Cho đến nay vẫn chưa có nghị định chính thức được ban hành, Dự thảo nghị định (tháng 11/2018) đang trong quá trình hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định của Dự thảo nghị định hướng dẫn về vấn đề này các đại biểu tham dự cho rằng có nhiều tiêu chí cần được cân nhắc kỹ càng hơn vì còn nhiều tiêu chí được đặt ra hoặc không phù hợp hoặc thiếu tính khả thi[4].

- Về chính sách khoan hồng, có nhiều ý kiến trao đổi gắn liền với việc xác định điều kiện doanh nghiệp được hưởng khoan hồng, thứ tự được hưởng khoan hồng, về mức miễn giảm …Nhìn chung các đại biểu đánh giá đây là sự sửa đổi bổ sung phù hợp sẽ góp phần quan trong trong việc phát hiện, xử lý đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, cũng nhiều ý kiến cho rằng:Luật Cạnh tranh 2018 quy định về chính sách khoan hồng nhưng lại đưa ra mức xử phạt tại Điều 111 Luật Cạnh tranh 2018 không có tính răn đe, thậm chí có thể thấp hơn mức xử phạt đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cho nên, chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh 2018 có thể không đạt được kết quả như mong muốn.

4. Kết luận

Luật Cạnh Tranh 2018 có hiệu lực từ 01/07/2019 với nhiều cải cách sâu, rộng  được kỳ vọng sẽ tạo ra cú hích to lớn thúc đẩy môi trường kinh doanh, cạnh tranh tự do, bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế. Tuy nhiên, mọi cải cách đều không thể xem là hoàn hảo, nhiều vấn đề được quy định trong luật này chắc chắn cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian sắp tới nhằm đảm bảo hiệu quả điều chỉnh trên thực tế.

Trong khuôn khổ của một Hội thảo khoa học cấp Khoa, mặc dù chưa thể đề cập hết tất cả các nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật Cạnh tranh 2018 nhưng với tinh thần trao đổi, thảo luận nhiệt huyết, cởi mở trong chừng mực nhất định Hội thảo đã đạt được những mục tiêu đề ra. Các ý kiến đóng góp của các đại biểu sẽ góp phần quan trọng trong việc thống nhất quan điểm pháp lý đối với công tác giảng dạy Luật Cạnh tranh tại Trường Đại học Luật TP.HCM. Ngoài ra, nhiều kiến nghị được ghi nhận tại Hội thảo sẽ được chuyển đến các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm hoàn thiện các quy định của Dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh 2018 trước khi được thông qua chính thức./.

(Bài: Th.s Đặng Quốc Chương)


[1] Xem Báo cáo Tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh, B ộ Công Thương, tr13

[2] Nguyễn Văn Hùng, Kiểm soát thảo thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2018; Nguyễn Thị Phương Hà, Một số ý kiến về vấn đề xác định doanh nghiệp được hưởng khoan hồng theo Luật Cạnh tranh 2018; Hà Thị Thanh Bình , Kiểm soát tập trung kinh tế và một vài gợi ý cho việc hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh 2018.

[3] Điều 1 Luật Cạnh tranh 2018 quy định: “Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam

[4] Xem thêm Hà Thị Thanh Bình, Kiểm soát tập trung kinh tế và một vài gợi ý cho việc hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh 2018, Kỷ yếu Hội thảo, tr.97-101


   

Top